Các điểm bán xăng E5

Các nhà đầu tư






Thống kê truy cập

1214734
Hôm nay
Tất cả
3214
1214734
Thứ sáu, 28 Tháng 11 2014

Chuỗi giá trị thị trường sắn Tây Nguyên và Đông Nam Bộ

Viết bởi : 
Chuyên mục : Thị trường sắn
Lượt xem : 4395

Chuỗi sản xuất - phân phối - tiêu thụ sắn khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ được vận hành giống nhau với sự tham gia của 5 lớp, bắt đầu từ (1) Người trồng sắn; (2) Đại lý thôn, (3) Đại lý xã (4) Đại lý tỉnh và (5) Nhà tiêu thụ. Có sự khác biệt trong cách thức phân phối sắn tươi so với sắn lát khô do đặc tính của nhu cầu sử dụng.

Chuỗi sản xuất - phân phối - tiêu thụ sắn khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ được vận hành giống nhau với sự tham gia của 5 lớp, bắt đầu từ (1) Người trồng sắn; (2) Đại lý thôn, (3) Đại lý xã (4) Đại lý tỉnh và (5) Nhà tiêu thụ. Có sự khác biệt trong cách thức phân phối sắn tươi so với sắn lát khô do đặc tính của nhu cầu sử dụng.
Ngoài ra, chuỗi phân phối sắn từ Người trồng sắn đến Nhà tiêu thụ cuối cùng về hình thức diễn tiến có vẻ rất tuần tự nhưng thực tế đang diễn ra sự cạnh tranh quyết liệt giữa các khâu thị trường và ngay trong một khâu, đặc biệt với mặt hàng sắn lát khô.

Kênh phân phối sắn tươi và sắn khô (giá bình quân vụ 2012/13) :

Đối với sắn tươi, sơ đồ trên cho thấy các Đại lý xã đóng vai trò là nhà cung cấp cho các Nhà tiêu thụ cuối cùng và quá trình phân phối diễn ra một cách tuần tự, không có sự mua bán lòng vòng hoặc mua bán tắt. Sự ổn định của kênh phân phối mặt hàng sắn tươi có thể được giải thích bằng chính đặc tính của tiêu thụ sắn tươi:

    Sắn tươi nếu để quá 48 giờ sau khi nhổ, độ tinh bột sụt giảm mạnh và củ bị lên men không chế biến thành tinh bột được. Do vậy, việc rút ngắn thời gian đưa sắn đến nhà máy tinh bột là yêu cầu bắt buộc quyết định mức lợi nhuận của các đại lý. Điều này cũng giải thích vì sao các bên tham gia thị trường không mua bán lòng vòng sắn tươi.
    Do sắn tươi không trữ trong kho như sắn lát khô, những Đại lý cấp tỉnh không có nhiều lợi ích khi tham gia thị trường.
    Các nhà máy tinh bột có những quy định chặt chẽ để kiểm soát nguyên liệu nên nếu không có quan hệ, không cung cấp được lượng hàng đủ lớn và thường xuyên thì bên cung cấp rất khó bán được sắn tươi cho các nhà máy này. Điều này lý giải vì sao không có sự mua bán tắt trên thị trường.
    Ngoài vấn đề quan hệ, chỉ những người có xe tải mới có khả năng trở thành đại lý cung cấp sắn củ tươi.

Khác với mặt hàng sắn tươi, quá trình phân phối sắn lát khô diễn ra phức tạp hơn và tồn tại nhiều trung gian hơn. Ngoài các thành viên thị trường như trong mua bán sắn củ tươi, xuất hiện thêm một lớp trung gian mới là các Đại lý cấp tỉnh.

Sơ đồ trên cũng cho thấy, tính tuần tự của thị trường sắn lát khô vẫn được duy trì từ Người trồng sắn cho tới Đại lý xã. Tuy nhiên, do mạng lưới liên lạc (điện thoại cố định, di động) và hệ thống giao thông đường bộ phát triển tới các tất cả các vùng sâu, vùng xa tạo điều kiện thuận lợi cho các đầu mối mua/bán liên lạc trực tiếp với nhau đã làm cho tính tuần tự của kênh phân phối bị phá vỡ, thị trường trở nên hỗn độn, phức tạp; tranh mua, tranh bán quyết liệt. Ngoài việc mua bán qua lại giữa các lớp trung gian, các thành viên trong cùng lớp cũng mua bán và cạnh tranh trực tiếp với nhau. Nhà tiêu thụ cuối cùng của mặt hàng sắn lát khô là các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi sử dụng sắn có chất lượng nhất (khô, trắng, giá cao); các nhà máy cồn trong nước và nhà xuất khẩu thường sử dụng sắn có chất lượng kém hơn và giá thấp hơn. Sự xuất hiện của Đại lý lớn cấp tỉnh cộng với tình trạng hỗn độn của thị trường (mua bán lòng vòng, mua bán tắt) có thể lý giải bởi: (i) tính chất mùa vụ và (ii) đặc tính sử dụng của sắn lát khô.

    Tính chất mùa vụ

Thu hoạch sắn chính vụ diễn ra trong khoảng 4 tháng, từ tháng 12 năm trước đến hết tháng 03 năm sau. Do vậy, sắn thu hoạch chính vụ phần lớn được chế biến khô, phần ít hơn được tiêu thụ tươi để chế biến tinh bột. Sắn cho nhà máy thức ăn chăn nuôi, các nhà máy cồn được thu mua và giao ngay hoặc được trữ trong kho để giao dần. Sắn xuất khẩu một phần xuất trực tiếp ngay trong vụ, một phần được thu gom để xuất ngoài vụ. Các kho trữ sắn thường nằm tập trung tại các khu vực thị trường chính, các cửa khẩu với Campuchia và cảng biển.

    Đặc tính của sắn lát khô

Sắn lát khô có thể tồn trữ mà không bị giảm độ tinh bột nếu để trong kho và được bảo quản. Ngoài ra, do nhu cầu lớn lại không bị giới hạn thời gian sử dụng như sắn tươi, giữa các trung gian cùng lớp có sự mua bán lòng vòng. Ngoài ra, sắn thu mua để xuất khẩu rất đa dạng với đủ loại chất lượng và tất cả các thành viên thị trường nếu có phương tiện vận chuyển đều có thể bỏ qua các trung gian để bán thẳng cho Nhà tiêu thụ cuối cùng.

Để tìm hiểu sự vận hành của thị trường sắn, bài viết sẽ đi sâu phân tích từng đối tượng là thành viên thị trường, trong đó tập trung vào đặc điểm, vai trò/trách nhiệm trong chuỗi phân phối, khả năng cung cấp, năng lực kinh doanh, thu nhập, chi phí, các mối quan hệ, các rủi ro và nhu cầu/mong muốn.

    Người trồng sắn

    Đặc điểm: Nông dân trồng sắn ở các vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ của Việt Nam và nông dân Campuchia khá giống nhau ở các đặc điểm: (i) phần nhiều là hộ nghèo, hộ dân tộc thiểu số có ít đất sản xuất; (ii) có kinh nghiệm trồng và bán sắn; (iii) tự quyết định việc canh tác trên mảnh đất họ sở hữu và (iv) có ít cơ hội khác tốt hơn để lựa chọn thay vì trồng sắn. Trồng cây có giá trị kinh tế cao như cà phê, cao su, điều, hồ tiêu dường như là chọn lựa của những hộ khá giả. Ngoài ra, cũng có các hộ nông dân đơn lẻ, một số Hợp tác xã nông nghiệp và chủ đất lớn (có từ 20 – 100 ha) tham gia trồng và cung cấp sắn ra thị trường. Trung bình mỗi hộ nông dân có khoảng 2 ha đất để trồng sắn tập trung hoặc trồng xen canh với điều, cà phê; có 2 lao động chính và từ 2 – 3 người ăn theo.
    Chi phí – thu nhập từ trồng sắn: Các chi phí trồng sắn của nông dân là công lao động, từ làm đất, trồng, dọn cỏ đến thu hoạch (xem Bảng 1 và 2). Nếu không tận dụng lao động gia đình thì hầu hết chi phí là công lao động thuê ngoài và phải trả luôn bằng tiền mặt. Chi phí làm đất hiện nay là 1,500,000 đồng/ha; lao động trồng 01 ha sắn cần khoảng 10 ngày công với chi phí 120,000/ngày/công; làm cỏ 03 đợt/vụ, mỗi đợt cần 10 công với chi phí 120,000/ngày/công. Nông dân thường không phải mua giống do họ để cây giống lại từ vụ trước để trồng cho vụ sau. Chi phí thu hoạch thường được tính theo hình thức khoán với khoảng 400,000 đồng/tấn nếu thu hoạch tươi và 1,000,000 đồng/tấn với thu hoạch khô. Ngoại trừ một số tỉnh thuộc Đông Nam Bộ như Bình Thuận, Đồng Nai, Tây Ninh nông dân chủ động đầu tư thêm phân bón cho sắn nhằm tăng năng suất, các tỉnh và vùng khác nông dân hầu như chưa có ý thức làm việc này do họ vẫn coi sắn là cây trồng thứ yếu. Chi phí phân bón vào khoảng 7-8 triệu đồng/ha theo hình thức đầu tư bán thâm canh. Năng suất sắn trong điều kiện có phân bón đạt khoảng 30-35 tấn/ha; nếu không có phân bón đạt khoảng 18 - 20 tấn/ha. Vụ 2012/13, chí phí đơn vị để sản xuất 1kg sắn khô của hộ nông dân (từ khi bắt đầu trồng tới thu hoạch với giả định toàn bộ lao động thuê ngoài) là 1,900 đồng/kg và 800 đồng/kg nếu thu hoạch là sắn tươi. Vụ 2012/13 giá sắn khô bình quân tại ruộng 3,300 đồng/kg giúp nông dân có gần 1,400 đồng/kg; giá sắn tươi bình quân là 1,200 đồng/kg, nông dân có lãi khoảng 400 đồng/kg.
    Rủi ro: Có 3 rủi ro chính Người trồng sắn thường xuyên đối mặt là: (i) Sâu bệnh, đặc biệt là bệnh chổi rồng xảy ra trên diện rộng trong những năm gần đây; (ii) biến động bất lợi của giá sắn do tính chất mùa vụ gây nên; và (iii) thời tiết không thuận lợi khi thu hoạch. Thực tế cho thấy, sắn thu hoạch dưới dạng củ tươi hay làm khô khi gặp mưa đều bị hao hụt về lượng và chất. Đáng lo ngại nhất là khả năng xảy ra khi sắn phơi gần khô gặp mưa kéo dài thì coi như bỏ đi. Rủi ro về giá và thời tiết xảy ra đồng thời như vụ 2008/09 là cơn ác mộng cho tất cả người trồng lẫn người kinh doanh sắn. Nhiều hộ bị mất trắng hoặc phần thu được không đủ để trả công thu hoạch.
    Người trồng sắn có thể thu hoạch và bán sắn dưới dạng củ tươi, bán khô hoặc thậm chí bán non như nhiều hộ đồng bào dân tộc thường làm. Một năm, một hộ trung bình bán ra thị trường từ 30 – 40 tấn sắn tươi hoặc 16-18 tấn sắn lát khô. Như một cơ chế tồn tại từ lâu, nông dân trồng sắn không bán sắn cho ai khác ngoài các Đại lý đặt tại thôn. Điều này được giải thích bởi hai nguyên nhân là: (i) do có những ràng buộc chặt chẽ về lợi ích và (ii) do mối quan hệ làng xã. Phần phân tích đối với Đại lý thôn sẽ giải thích rõ hơn hai nguyên nhân này.
    Nhu cầu: Nhu cầu hay mong muốn của nông dân trồng sắn là được hướng dẫn kỹ thuật canh tác mới, cung cấp giống cao sản, bao tiêu toàn bộ sản phẩm và giá bán phải giữ ổn định và có lãi.

Bảng 1: Chi phí sản xuất sắn lát khô (giá và chi phí sản xuất vụ 2012/13)

Chi phí

Đơn vị

Số lượng

Đơn giá

Bán thâm canh

Quảng canh

Công trồng, chăm sóc

     

6,300,000

6,300,000

Công cày/làm đất (khoán)

đồng/ngày

1

1,500,000

1,500,000

1,500,000

Công trồng + bón lót

đồng/ngày

10

120,000

1,200,000

1,200,000

Công làm cỏ + bón phân (3 lần* 10 công)

đồng/ngày

30

120,000

3,600,000

3,600,000

Phân bón, thuốc BVTV

     

7,570,000

-

Phân vi sinh

kg

3,000

2,000

3,000,000

 

Đạm

kg

100

12,400

620,000

 

Phân NPK

kg

600

12,000

3,600,000

 

Thuốc trừ cỏ

lít

5

70,000

350,000

 

Năng suất tươi

tấn

   

35

20

Năng suất khô

tấn

 

2.3

15.2

8.7

Chi phí thu hoạch

đồng

 

1,000,000

15,217,391

8,695,652

Tổng chi phí

đồng

   

29,087,391

14,995,652

Chi phí đơn vị

đồng/kg

   

1,911

1,725

Giá bán (tại ruộng)

đồng/kg

 

3,300

   

Doanh thu

đồng

   

50,217,391

28,695,652

Lợi nhuận/ha

đồng

   

21,130,000

13,700,000

Lợi nhuận/2ha

đồng

   

42,260,000

27,400,000

Bảng 2: Chi phí sản xuất sắn tươi (giá và chi phí sản xuất vụ 2012/13)

Chi phí

Đơn vị

Số lượng

Đơn giá

Bán thâm canh

Quảng canh

Công trồng, chăm sóc

     

6,300,000

6,300,000

Công cày/làm đất (khoán)

đồng/ngày

1

1,500,000

1,500,000

1,500,000

Công trồng + bón lót

đồng/ngày

10

120,000

1,200,000

1,200,000

Công làm cỏ + bón phân (3 lần* 10 công)

đồng/ngày

30

120,000

3,600,000

3,600,000

Phân bón, thuốc BVTV

     

7,570,000

-

Phân vi sinh

kg

3,000

2,000

3,000,000

 

Đạm

kg

100

12,400

620,000

 

Phân NPK

kg

600

12,000

3,600,000

 

Thuốc trừ cỏ

lít

5

70,000

350,000

 

Năng suất

tấn

   

35

20

Chi phí thu hoạch

đồng/tấn

 

400,000

14,000,000

8,000,000

Tổng chi phí

đồng

   

27,870,000

14,300,000

Chi phí đơn vị

đồng

   

796

715

Giá bán (tại ruộng)

đồng/kg

 

1,200

   

Doanh thu

đồng

   

42,000,000

24,000,000

Lợi nhuận/ha

đồng

   

14,130,000

9,700,000

Lợi nhuận/2ha

đồng

   

28,260,000

19,400,000


    Đại lý thôn

    Đặc điểm: Đại lý thôn là người trong thôn, bao tiêu toàn bộ lượng sắn bán ra của các hộ trong thôn hoặc một vài thôn khác. Đại lý thôn thường là những hộ gia đình khá giả, có nhà nằm cạnh đường, có cửa hàng tạp hóa, có tiền cho vay tính lãi cao, có phương tiện vận chuyển sắn (máy cày) từ ruộng trồng sắn ra bãi tập kết bên đường. Phần lớn Đại lý thôn không đăng ký pháp nhân, một số ít có đăng ký dưới dạng hộ kinh doanh cá thể nhưng mục đích không phải để mua bán sắn mà để mở cửa hàng tạp hóa tại nhà. Đại lý thôn có thể được coi là người tạo ra thị trường sắn và không thể thay thế do họ cùng với máy cày là phương tiện đặc thù và duy nhất có thể đưa sắn từ ruộng (nơi xe tải thường không vào được) ra tới nơi tập kết bên đường. Từ đây, sắn được bán lại cho các xe tải đường dài là các Đại lý xã.
    Phạm vi và quy mô thu mua: Một Đại lý thôn trung bình một vụ có thể cung cấp ra thị trường từ 500 - 1,000 tấn sắn cả tươi và khô. Mỗi thôn có từ 2 - 3 đại lý và mỗi đại lý bao quát một nhóm hộ cung cấp sắn thường xuyên, ổn định. Giữa các đại lý thôn phải cạnh tranh quyết liệt với nhau nhằm giữ và gia tăng lượng hộ gia đình cung cấp sắn.
    Cách thức/quan hệ kinh doanh: Để đảm bảo chắc chắn Người trồng sắn phải bán sắn cho mình, Đại lý thôn thường tạo ra các ràng buộc về lợi ích. Theo đó, họ chủ động hỗ trợ Người trồng sắn bằng cách cho vay tiền, ứng trước vật tư phân bón hoặc bán chịu lương thực thực phẩm trong suốt thời gian chưa có thu hoạch. Hình thức cho vay ứng trước cộng với quan hệ làng xã đã tạo ra sợi dây vô hình gắn chặt lợi ích của Người trồng sắn với lợi ích của Đại lý thôn. Ngược lại, Người trồng sắn vì quan hệ làng xã và cơ hội tiếp tục được “giúp đỡ” khi khó khăn cũng muốn duy trì việc bán sắn thường xuyên cho Đại lý thôn. Vào vụ thu hoạch, Đại lý thôn tổ chức thu mua ngay tại ruộng sắn, họ đưa phương tiện, nhân công bốc xếp đến và đưa sắn ra bãi tập kết tại nhà hoặc một địa điểm nào đó mà xe tải lớn có thể vào được. Giá cả mua bán do hai bên thỏa thuận căn cứ vào giá thị trường và chất lượng sắn, thanh toán ngay bằng tiền mặt (đã trừ đi các khoản nợ nếu có) sau khi giao nhận hàng. Việc chậm thanh toán ít khi xảy ra và nếu có thì cũng không quá 7 ngày. Đại lý thôn mua bán không có hợp đồng, không phát hành được hóa đơn tài chính và mức cam kết của họ rất yếu. Đại lý thôn cũng có thể tiếp cận được dịch vụ của ngân hàng nhưng nhất thiết phải có tài sản thế chấp (là bất động sản) và phương án vay vốn khả thi. Đại lý thôn sau khi thu mua sắn của Người trồng thường sẽ bán lại cho Đại lý xã. Một Đại lý xã có thể là đối tác thường xuyên của một số Đại lý thôn. Về mặt lý thuyết, các Đại lý thôn có thể bán trực tiếp cho Đại lý cấp tỉnh hoặc Nhà tiêu thụ cuối cùng nhưng trên thực tế việc này ít khi xảy ra do không có quan hệ, thiếu thông tin, rất dễ bị ép giá và không hiệu quả do số lượng ít. Các đại lý lớn hơn cũng có thể tìm đến với Đại lý thôn, nhưng một lần nữa vấn đề hiệu quả lại trở thành rào cản khiến mối quan hệ không được duy trì.
    Chi phí – thu nhập: Chi phí Đại lý thôn phải bỏ ra để thu mua gồm phần trả cho Người trồng sắn, công bốc lên - xuống phương tiện vận chuyển khoảng 30 đ/kg/lần, chi phí vận chuyển bằng xe máy cày khoảng 250 đồng/kg tùy quãng đường và có thể có các chi phí giao dịch khác. Lợi nhuận kỳ vọng của Đại lý thôn hiện từ 120-150 đồng/kg. Đóng góp quan trọng nhất của Đại lý thôn vào chuỗi giá trị thị trường sắn là họ đã chuyển sắn từ sở hữu của nông dân thành hàng hóa của thị trường và từ họ bắt đầu hình thành nên một mặt bằng giá từ phía cung.
    Các rủi ro: Nếu không tính đến rủi ro do tích trữ hàng, Đại lý thôn có ít rủi ro hơn vì quyết định mua và bán đều dựa trên các thông tin đã sẵn có, bao gồm cả việc biết chắc giá cả hai đầu và người mua, người bán.
    Nhu cầu: Nhìn chung Đại lý thôn cũng muốn có những khách hàng đầu vào, đầu ra lâu dài và có sự hỗ trợ vốn từ phía các đại lý lớn hơn để họ có thể mở rộng địa bàn và nâng cao năng lực thu mua.

Đại lý xã

    Đặc điểm: Đại lý xã là đại lý thu mua trong xã. Họ mua hàng từ Đại lý thôn và bán lại cho Đại lý cấp tỉnh hoặc bán thẳng cho Người tiêu thụ cuối cùng. Đại lý xã có thể đăng ký kinh doanh dưới hình thức một hộ kinh doanh, một DNTN kinh doanh nhiều mặt hàng hoặc có thể không đăng ký dưới bất kỳ hình thức nào nhưng lại có khả năng tổ chức thu mua lớn do có năng lực tài chính mạnh, có quan hệ và có kinh nghiệm. Mặc dù có đăng ký pháp nhân nhưng hầu hết các Đại lý xã mua bán sắn không bằng hợp đồng, không phát hành hóa đơn VAT ngoại trừ trường hợp người mua yêu cầu.
    Phạm vi và qui mô thu mua: Phạm vi thu mua của Đại lý xã bao phủ 2 -3 xã trong một huyện hoặc hơn một huyện. Với tầm bao phủ này, mỗi Đại lý xã có khả năng thu mua từ 5.000 – 20.000 tấn/năm. Dưới mỗi Đại lý xã có từ 15 – 20 các Đại lý thôn là nhà cung cấp hàng thường xuyên. Một vài Đại lý lớn còn tự mở rộng địa bàn thu mua sang Campuchia đưa về bán lại cho đối tác trong nước.
    Cách thức/quan hệ kinh doanh: Nhằm bảo đảm việc thu mua được thông suốt với chất lượng và khối lượng yêu cầu, hầu hết Đại lý xã cũng ứng trước vốn (bằng tiền) cho Đại lý thôn vào đầu mỗi vụ mùa. Như trên đã trình bày, Đại lý thôn sẽ dùng nguồn tiền ứng trước này cộng với các nguồn tự có khác ứng lại cho Người trồng sắn để họ đầu tư chăm sóc cây trồng, chi tiêu gia đình trong thời gian chưa đến vụ thu hoạch. Việc ứng trước của Đại lý xã cho Đại lý thôn tùy thuộc vào sự tin tưởng, thời gian hợp tác, mức độ quen biết giữa hai bên. Để quyết định thu mua, Đại lý xã thường nhận được yêu cầu giao hàng (đơn đặt hàng) từ phía Đại lý cấp tỉnh trong đó nêu rõ giá, loại hàng, địa điểm giao hàng, phân chia trách nhiệm liên quan tới phương tiện vận chuyển, công bốc hàng lên xuống phương tiện. Căn cứ vào yêu cầu này, Đại lý xã tổ chức thu mua từ các Đại lý thôn trong mạng lưới của mình hoặc từ bất kỳ nguồn nào khác đáp ứng được yêu cầu. Cách thức mua bán này là nguyên nhân gây ra tình trạng mua tranh, bán tranh trên thị trường sắn. Đại lý thôn, Đại lý xã, Đại lý cấp tỉnh mua bán với nhau không bằng hợp đồng làm bằng văn bản, thanh toán với nhau chủ yếu bằng tiền mặt và các thỏa thuận được thực hiện bằng điện thoại. Khi lấy hàng, Đại lý xã đưa xe tải đến các điểm tập kết của Đại lý thôn để bốc hàng. Công bốc hàng lên xe tải là trách nhiệm của Đại lý thôn và chi phí này được tính vào giá mua.
    Năng lực tài chính và cơ sở vật chất: Hầu hết các Đại lý xã đều sở hữu hoặc đi thuê từ 1 – 3 xe tải loại lớn (từ 10 tấn) để chủ động trong thu mua, vận chuyển hàng. Họ cũng có khả năng huy động thêm phương tiện vận tải nếu có yêu cầu. Một số có xây kho nhưng diện tích nhỏ dưới 1.000 m2 để chứa vật tư nông nghiệp và các hàng hóa nông sản khác. Đại lý xã nếu có đăng ký kinh doanh thường dưới dạng DNTN với quy mô vốn đăng ký từ 100 - 500 triệu. Một số đại lý có khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng nhưng thường bị đánh giá mức độ tín nhiệm thấp và nhất thiết phải có thế chấp bằng tài sản (bằng động sản hoặc bất động sản) và phương án kinh doanh khả thi. Mức độ tín nhiệm thấp của các Đại lý xã với ngân hàng chủ yếu do họ không ghi chép thành hệ thống các thông tin, các báo cáo hoạt động doanh nghiệp cho ngân hàng và đây là rào cản chính khiến nhiều DNTN thấy khó khăn khi tiếp cận các dịch vụ của ngân hàng. Những Đại lý không đăng ký phải sử dụng nguồn tự có hoặc vay trên thị trường không chính thức với lãi suất cao. Sự khách biệt chính giữa Đại lý xã, Đại lý thôn nằm ở quy mô thu mua, vốn, phương tiện vận tải và tầm bao phủ thị trường. Đại lý thôn cũng có thể trở thành Đại lý xã nếu họ có thể tổ chức xe tải vận chuyển đưa hàng về bán cho các Đại lý tỉnh và Nhà tiêu thụ cuối cùng.
    Năng lực quản trị kinh doanh: Như trên đã đề cập, các Đại lý xã cho dù có hay không có đăng ký kinh doanh thì việc tổ chức kinh doanh của họ đều rất giống nhau và hết sức đơn giản. Toàn bộ số liệu mua bán, cho vay, ứng trước, chi phí, thỏa thuận được chủ Đại lý ghi chép trong một quyền sổ duy nhất. Tất cả các Đại lý xã khi được hỏi đều không tính toán lời lãi thực tế, không nắm rõ loại, số lượng sắn, nguồn cung cấp từ vụ trước và cách thức kinh doanh này đã tồn tại nhiều năm.
    Chi phí, lợi nhuận kỳ vọng và cách thức kiểm soát chất lượng: Các chi phí của Đại lý xã bao gồm tiền mua sắn trả cho các Đại lý thôn, chi phí vận chuyển và các chi phí giao dịch khác. Lợi nhuận kỳ vọng khoảng 100 đồng/kg. Các đại lý loại này kiểm soát chất lượng hàng bằng kinh nghiệm (ngửi mùi, cân nặng, mầu sắc, nguồn gốc, thời điểm).
    Rủi ro: Cũng giống như Đại lý thôn, quyết định mua bán hàng của Đại lý xã dựa trên các thông tin rõ ràng nên họ cũng không có rủi ro. Tuy nhiên, họ dễ bị các Đại lý tỉnh ép giá nếu chất lượng không đạt yêu cầu.
    Nhu cầu: Nhu cầu hay mong muốn của Đại lý xã là có khách hàng đầu vào, đầu ra ổn định; được thanh toán nhanh, giải phóng hàng nhanh; giá cả ổn định và được hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ ngân hàng.

Đại lý Tỉnh

Đại lý tỉnh là một đại lý thu mua lớn trong chuỗi phân phối. Họ tổ chức thu mua từ các Đại lý xã và bán lại cho Nhà tiêu thụ cuối cùng. Đại lý cấp tỉnh tổ chức kinh doanh quy mô và bài bản hơn các cấp trung gian khác.

    Đặc điểm: Đại lý cấp tỉnh đăng ký kinh doanh dưới hình thức công ty TNHH hoặc DNTN kinh doanh đa ngành như mua bán các loại vật tư, hàng hóa nông sản, vận tải, cho thuê kho bãi, nhà hàng, dịch vụ, xây dựng. Nhiều Đại lý cấp tỉnh trực tiếp tham gia xuất khẩu sắn lát khô và các hàng hóa nông sản khác. Sự khác biệt cơ bản giữa Đại lý cấp tỉnh và các Đại lý cấp dưới thể hiện ở quy mô thu mua, tầm bao phủ thị trường, năng lực tài chính, cơ sở vật chất và khả năng quản trị doanh nghiệp.
    Phạm vi và quy mô thu mua: Mạng lưới thu mua của Đại lý cấp tỉnh có thể bao phủ nhiều huyện trong một tỉnh hoặc nhiều tỉnh. Một Đại lý cấp tỉnh thường mua hàng từ 10 – 15 Đại lý xã. Với tầm bao phủ này, một Đại lý cấp tỉnh thu mua trung bình từ 20.000 – 100.000 tấn sắn lát khô/năm. Ngoài việc có nhiều đại lý cung cấp, các đầu mối bán hàng lớn, hệ thống kho chứa lớn và phương tiện vận tải, Đại lý cấp tỉnh phải có khả năng huy động được một lượng lớn tiền mặt trong 4 tháng chính vụ và điều này quyết định năng lực cạnh tranh của họ.
    Cách thức và quan hệ kinh doanh: Đại lý cấp tỉnh thường thu mua theo hai trường hợp. Trường hợp 1, thu mua khi đã có hợp đồng đầu ra chắc chắn. Căn cứ các thỏa thuận hợp đồng, Đại lý cấp tỉnh huy động hàng từ các đại lý cấp dưới trong mạng lưới riêng và từ các nguồn khác để bảo đảm đủ chất lượng và số lượng hàng theo yêu cầu của hợp đồng. Trong trường hợp này, phương tiện vận tải, chi phí vận tải, công bốc xếp lên phương tiện do Đại lý xã chịu trách nhiệm và được tính vào giá bán. Đại lý xã sẽ giao hàng tại địa điểm do Đại lý cấp tỉnh quy định có thể là kho khách hàng của Đại lý cấp tỉnh hoặc giao hàng trực tiếp tại cảng hoặc các nhà máy tiêu thụ sắn trong nước. Chi phí bốc hàng xuống phương tiện do Đại lý cấp tỉnh chi trả. Thu mua hàng trong trường hợp này sẽ giúp tiết kiệm được hai lần chi phí bốc hàng lên xuống so với trường hợp 2. Hiện nay, chi phí bốc hàng lên xuống phương tiện bình quân là 30 đồng/kg/lần, chi phí vận tải trong mùa cao điểm 150 đồng/kg cho quãng đường vận chuyển 100km. Trường hợp 2, Đại lý cấp tỉnh chưa có hợp đồng đầu ra nhưng vẫn thu mua, đặc biệt là lúc giá thấp, trữ lại trong kho đầu cơ giá lên. Chỉ những Đại lý cấp tỉnh có kho lớn, tiền mặt dồi dào và có đối tác lớn mới thực hiện đầu cơ, tích trữ. Mua bán giữa Đại lý cấp tỉnh và Đại lý xã thực hiện qua điện thoại. Thanh toán giữa Đại lý cấp tỉnh và Đại lý xã chủ yếu bằng tiền mặt, có thể chậm thanh toán nhưng thường không quá 7 ngày.
    Đại lý cấp tỉnh bán hàng cho Nhà tiêu thụ cuối cùng bằng hợp đồng thương mại trong đó quy định rất rõ giá, quy cách phẩm chất hàng, địa điểm, thời điểm giao hàng, điều khoản thanh toán, điều khoản phạt, phát hành hóa đơn và các bên tuân thủ nghiêm túc các điều khoản của hợp đồng. Thanh toán giữa hai bên bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản. Bên mua có thể ứng trước một phần cho bên bán ngay sau khi hợp đồng được ký kết, phần còn lại thanh toán sau khi giao hàng.
    Năng lực tài chính và cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất như nhà kho, cân điện tử, phương tiện vận chuyển, nhân lực có kinh nghiệm là những yếu tố quyết định khả năng thu mua thành công của Nhà cung cấp. Các Đại lý cấp tỉnh đều có ít nhất một kho để trữ hàng với diện tích từ 2.000 m2 - 5.000 m2 cùng cân điện tử, băng nâng hàng và sân bãi rộng và kho bãi thường đặt tại các vùng trọng điểm trồng sắn, gần cảng xuất khẩu, gần các khu công nghiệp hoặc các cửa khẩu biên giới với Campuchia. Ngoài ra, họ cũng sở hữu hoặc huy động được nhiều xe vận tải lớn để vận chuyển hàng.
    Đại lý cấp tỉnh thường có vốn đăng ký kinh doanh từ 2 đến 20 tỷ đồng. Ngoài nguồn vốn tự có lớn, Đại lý cấp tỉnh còn được sự hậu thuẫn của hệ thống Ngân hàng với mức độ tín nhiệm cao. Trung bình mỗi Đại lý cấp tỉnh có thể được cấp hạn mức tín dụng từ 3 - 30 tỷ (thời hạn 6-9 tháng), một số đại lý lớn có uy tín có thể được cấp trên 100 tỷ. Tài sản thế chấp vay vốn của Đại lý cấp tỉnh bằng tài sản (động sản, bất động sản) hoặc bằng hàng tồn kho, hàng luân chuyển.
    Năng lực quản trị kinh doanh: Khác với các Đại lý cấp dưới, năng lực quản trị doanh nghiệp của Đại lý cấp tỉnh ở tầm cao hơn với bộ khung quản lý doanh nghiệp đầy đủ (Giám đốc điều hành, Kế toán trưởng, các bộ phận chức năng…), có hệ thống báo cáo tài chính theo quy định và họ kiểm soát được đầu vào, đầu ra.
    Chi phí, lợi nhuận kỳ vọng và kiểm soát chất lượng: Các chi phí chính của Đại lý cấp tỉnh gồm tiền trả cho các Đại lý cấp dưới, chi phí vận chuyển, lưu kho, bốc xếp và các chi phí giao dịch khác. Lợi nhuận kỳ vọng bình quân khoảng 50 đồng/kg. Đại lý cấp tỉnh cũng kiểm soát chất lượng hàng chỉ bằng kinh nghiệm (ngửi mùi, cân nặng, mầu sắc, nguồn gốc, thời điểm thu mua).
    Rủi ro: Rủi ro lớn nhất và nguy hiểm nhất của Đại lý cấp tỉnh chính là biến động giá thị trường bất lợi khi bán hàng.

Nhà tiêu thụ cuối cùng

Nhà tiêu thụ cuối cùng bao gồm (i) Nhà máy chế biến tinh bột, (ii) Nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi, Nhà máy sản xuất cồn trong nước và (iii) các Nhà xuất khẩu. Các nhà tiêu thụ cuối cùng là đại diện cho lượng cầu trên thị trường.

    Nhà máy chế biến tinh bột

Nhà máy chế biến tinh bột sử dụng sắn tươi làm nguyên liệu cho sản xuất. Do đặc thù của sản xuất, các nhà máy phải được đặt ngay tại vùng nguyên liệu và gần nguồn nước. Các nhà máy chế biến tinh bột không trữ hàng do sắn tươi để qua 48giờ sẽ bị lên men không đạt chất lượng sản xuất. Theo thống kê của Cục Trồng Trọt – Bộ NN&PTNT, cả nước hiện có khoảng 650 nhà máy và cơ sở chế biến tinh bột với tổng công suất khoảng 2,2 triệu tấn/năm (tương đương sử dụng khoảng 8 triệu tấn sắn tươi) trong đó riêng tỉnh Tây Ninh có 86 nhà máy. Gần như 100% lượng tinh bột sản xuất trong nước được xuất khẩu. Trong vòng 4 năm trở lại đây, sản lượng tinh bột xuất khẩu bình quân của Việt Nam vào khoảng 1,2 triệu tấn/năm, sử dụng 4,8 triệu tấn sắn tươi, tức bằng gần 50% sản lượng sắn cả nước.

    Nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi (TACN):

Các nhà máy TACN thường đặt tại các khu công nghiệp, có hệ thống thu mua hoàn chỉnh, có khách hàng cung ứng truyền thống và hệ thống kho chứa lớn. Tuy nhiên, sắn lát cho thức ăn chăn nuôi phải là hàng có chất lượng cao nhất (khô, hàm lượng tinh bột cao, trắng, không lẫn tạp chất) và phải tuân thủ ngặt nghèo quy trình kiểm định trước khi được đưa vào nhà máy. Các Đại lý cấp dưới hay Đại lý cấp tỉnh đều mong muốn bán được hàng cho nhà máy chế biến thức ăn do giá thu mua cao, thanh toán nhanh và số lượng yêu cầu lớn. Sản lượng TACN của Việt Nam năm 2012 khoảng 15 triệu tấn, sử dụng từ 1-1,2 triệu tấn sắn lát khô làm nguyên liệu đầu vào (tương đương 2.3-2,8 triệu tấn sắn tươi).

    Nhà máy cồn

Hiện cả nước có 7 nhà máy cồn nhiên liệu được xây dựng, trong đó 6 nhà máy đã sản xuất sản phẩm. Tổng nhu cầu sắn lát khô của 6 nhà máy (100% công suất) vào khoảng 1,3 triệu tấn/năm, tương đương 3 triệu tấn sắn tươi. Sắn để sản xuất cồn nhiên liệu thường có chất lượng thấp hơn sắn cho TACN và có giá thấp hơn.

    Nhà xuất khẩu

Các Nhà xuất khẩu sắn lát cạnh tranh trực tiếp với các nhà máy cồn nhiên liệu vì cả 2 nhóm này thu mua sắn có cùng chất lượng. Họ thu mua quy mô lớn với hàng trăm nghìn tấn/năm, với đủ loại chất lượng, có đủ kho chứa và tài chính dồi dào. Điểm yếu cơ bản của các nhà xuất khẩu là họ không có thị trường đầu ra ổn định. Do đó họ không thể lập kế hoạch thu mua và luôn ở trong thế bị động từ việc tổ chức thu mua, chuẩn bị vốn, phương tiện vận tải, kho chứa. Lợi nhuận kỳ vọng của nhóm các nhà xuất khẩu sắn hiện nay vào khoảng 50 đồng/kg. Sản lượng sắn xuất khẩu Việt Nam trong những năm gần đây từ 1-1,2 triệu tấn/năm (tương đương 2.3-2,8 triệu tấn sắn tươi) và 90% được xuất sang thị trường Trung Quốc

Bảng 3 và Bảng 4 dưới đây miêu tả chuỗi giá trị thị trường mua bán sắn nguyên liệu dưới dạng tươi và khô. Chi phí và lợi nhuận kỳ vọng của từng thành viên thị trường được giả định trong điều kiện bình thường, tức loại bỏ hoàn toàn các yếu tố mùa vụ, đầu cơ, ép giá và các chi phí giao dịch khác. Kênh phân phối sắn thực hiện tuần tự từ Người trồng sắn - Đại lý thôn - Đại lý xã - Đại lý cấp tỉnh - Nhà tiêu thụ cuối cùng. Phân tích sử dụng chi phí và giá thị trường bình quân niên vụ 2012/13.

Bảng 3: Chuỗi giá trị thị trường sắn củ tươi vụ 2012/13

Đối tượng

Chi phí

Giá thị trường

Tỷ trọng

Nông dân

Chi phí thu sản xuất 1 kg sắn tươi

800

 

Lợi nhuận

400

 
 

Giá bán cho Đại lý thôn

1,200

59%

Đại lý thôn (máy cày)

Công bốc lên phương tiện

30

 

Chi phí vận chuyển ra đường

250

 

Công bốc xuống phương tiện

30

 

Công bốc lên xe tải

30

 

Lợi nhuận kỳ vọng

150

 
 

Giá bán cho đại lý xã

1,690

83%

Đại lý xã (ôtô)

Chi phí vận tải về nhà máy tinh bột

250

 

Lợi nhuận kỳ vọng

100

 
 

Giá bán cho nhà máy tinh bột

2,040

100%

Bảng 4: Chuỗi giá trị thị trường sắn lát khô vụ 2012/13

Đối tượng

Chi phí

Giá thị trường

Tỷ trọng

Nông dân

Chi phí sản xuất 1kg sắn khô

1,911

 

Lợi nhuận (bán sắn khô)

1,389

 
 

Giá bán cho Đại lý thôn

3,300

71%

Đại lý thôn (máy cày)

Công bốc lên phương tiện

30

 

Chi phí vận chuyển ra đường

250

 

Công bốc xuống phương tiện

30

 

Công bốc lên xe tải

30

 

Lợi nhuận kỳ vọng

150

 
 

Giá bán cho đại lý xã

3,790

82%

Đại lý xã (ôtô)

Chi phí vận tải về kho bên mua

250

 

Lợi nhuận kỳ vọng

100

 
 

Giá bán cho Đại lý tỉnh

4,140

90%

Đại lý tỉnh (kho)

Công bốc lên xe tải

40

 

Công bốc xuống xe tải

40

 

Chi phí vận chuyển về cảng

150

 

Lợi nhuận kỳ vọng

50

 
 

Giá bán cho nhà XK

4,420

96%

Nhà XK

Chi phí tại cảng

150

 

Lợi nhuận kỳ vọng

50

 
 

Giá xuất khẩu

4,620

100%

Tác giả: Nguyễn Đình Quân

Nội dung: Phân tích cấu trúc chuối phân phối thị trường kinh doanh sắn lát khô khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.

Phần: Chuỗi giá trị

 

 

Các đối tác

Joomla Templates - by Joomlage.com