Tổng quan về cây sắn

1. Sản xuất sắn trên thế giới

Sắn (Manihot esculenta, khoai mì, cassava, tapioca) là cây lương thực ăn củ hàng năm, có thể sống lâu năm, thuộc họ thầu dầu Euphorbiaceae. Cây sắn cao 2 - 3 m, đường kính tán 50 - 100 cm. Lá khía thành nhiều thùy, có thể dùng để làm thức ăn chăn nuôi gia súc. Rễ ngang phát triển thành củ và tích luỹ tinh bột. Củ sắn dài 20 - 50 cm, khi luộc chín có màu trắng đục, hàm lượng tinh bột cao. Sắn luộc chín có vị dẻo, thơm đặc trưng. Sắn có thời gian sinh trưởng thay đổi từ 6 đến 12 tháng, có nơi tới 18 tháng, tùy thuộc giống, vụ trồng, địa bàn trồng và mục đích sử dụng.

Sắn hiện được trồng tại hơn 100 nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, tập trung nhiều ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ. Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) xếp sắn là cây lương thực quan trọng ở các nước đang phát triển sau lúa gạo, ngô và lúa mì. Tinh bột sắn là một thành phần quan trọng trong chế độ ăn của hơn một tỷ người thuộc các nước thế giới thứ 3 (www. TTTA. Food market, 2009). Đồng thời, sắn cũng là một thành phần nguyên liệu quan trọng trong thức ăn chăn nuôi tại nhiều nước trên thế giới và cũng là hàng hóa xuất khẩu có giá trị để chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì, màng phủ sinh học và phụ gia dược phẩm.

Đặc biệt, sắn là nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol) tại một số quốc gia châu Á. Từ 2008, sản lượng sản xuất ethanol của Trung Quốc đã đạt 1 triệu tấn và đang tiếp tục tăng lên. Trung Quốc trở thành nước nhập khẩu nguyên liệu sắn để sản xuất ethanol từ các quốc gia lân cận như Thái lan, Việt Nam, Campuchia và Indonesia. Tại Thái lan và Viet Nam, nhiều nhà máy sản xuất ethanol sử dụng sắn đã được xây dựng trong giai đoạn từ 2008-2012. Indonesia, Philippine đã lên kế hoạch sử dụng sắn sản xuất ethanol để pha vào xăng theo tỷ lệ bắt buộc 5% bắt đầu từ năm 2010. Các nước như Lào, Papua New Guinea, đảo quốc Fiji, Nigeria, Colombia và Uganda cũng đang nghiên cứu thử nghiệm cho sản xuất ethanol (TTTA. Outlook 2009).

 

Hình 1: Bản đồ phân bố sắn trên thế giới

 



Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới có chiều hướng gia tăng từ năm 2000 đến nay (xem Bảng 1). Năm 2012, sản lượng sắn thế giới đạt 269,12 triệu tấn củ tươi, tăng 51% so với năm 2000. Diện tích trồng sắn trong cùng thời gian cũng tăng 20%. Nước sản xuất sắn nhiều nhất hiện nay là Nigeria (54 triệu tấn), kế đến là Thái Lan (29,94 triệu tấn) và Indonesia (24,17 triệu tấn). Nước có năng suất sắn cao nhất là Ấn Độ (31,43 tấn/ha), kế đến là Thái Lan (21,09 tấn/ha), so với năng suất sắn bình quân của thế giới là 12,92 tấn/ha (FAO, 2012). Việt Nam đứng thứ 9 về sản lượng sắn trên thế giới với 9,74 triệu tấn năm 2012.

Bảng 1. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn thế giới từ 2000 – 2012

Năm

Diện tích
(triệu ha)

Năng suất 
(tấn/ha)

Sản lượng
(triệu tấn)

2000

16,86

10,70

177,89

2001

17,17

10,73

184,36

2002

17,31

10,61

183,82

2003

17,59

10,79

189,99

2004

18,51

10,94

202,64

2005

18,69

10,87

203,34

2006

20,50

10,90

223,20

2007

18,39

11,94

227,79

2008

21,94

12,22

233,50

2009

19,32

12,29

237,43

2010

19,55

12,43

243,05

2011

20,46

12,79

261,77

2012

20,82

12,92

269,12

Nguồn: Tổng hợp từ  FAOSTAT.

Viện Nghiên cứu Chính sách lương thực thế giới (IFPRI), đã tính toán nhiều mặt và dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn toàn cầu với tầm nhìn đến năm 2020. Năm 2020, sản lượng sắn toàn cầu ước đạt 275,10 triệu tấn, trong đó sản xuất sắn chủ yếu ở các nước đang phát triển là 274,7 triệu tấn, các nước đã phát triển khoảng 0,40 triệu tấn. Mức tiêu thụ sắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt 254,60 triệu tấn so với các nước đã phát triển là 20,5 triệu tấn. Khối lượng sản phẩm sắn toàn cầu sử dụng làm lương thực thực phẩm dự báo nhu cầu là 176,3 triệu tấn và thức ăn gia súc 53,4 triệu tấn. Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm sắn làm lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1,98% và 0,95%. Châu Phi vẫn là khu vực dẫn đầu sản lượng sắn toàn cầu với dự báo sản lượng năm 2020 sẽ đạt 168,6 triệu tấn. Trong đó, khối lượng sản phẩm sử dụng làm lương thực thực phẩm là 77,2%, làm thức ăn gia súc là 4,4%. Châu Mỹ La tinh giai đoạn 1993-2020, ước tốc độ tiêu thụ sản phẩm sắn tăng hàng năm là 1,3%, so với châu Phi là 2,44% và châu Á là 0,84 - 0,96%. Cây sắn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nhiều nước châu Á, đặc biệt là các nước vùng Đông Nam Á nơi cây sắn có tổng diện tích đứng thứ ba sau lúa và ngô và tổng sản lượng đứng thứ ba sau lúa và mía.

2. Sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam

Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực quan trọng đứng hàng thứ ba sau lúa và ngô. Cây sắn hiện nay đã chuyển đổi vai trò từ cây lương, thực thực phẩm thành cây công nghiệp hàng hóa có lợi thế cạnh tranh cao. Sản xuất sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và điều kiện kinh tế nông hộ. Nghiên cứu và phát triển cây sắn theo hướng sử dụng đất nghèo dinh dưỡng, đất khó khăn là việc làm có hiệu quả cao (Hoàng Kim và Trần Công Khanh, 2005), đây là hướng hỗ trợ chính cho việc thực hiện Đề án “Phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 177/2007/ QĐ-TT ngày 20 tháng 11 năm 2007.

Tại Việt Nam, sắn được canh tác phổ biến ở hầu hết các tỉnh của các vùng sinh thái nông nghiệp. Giai đoạn từ năm 2000-2012, tốc độ tăng trưởng diện tích bình quân hàng năm là 6% và tốc độ tăng trưởng sản lượng bình quân hàng năm đạt 10%. Năng suất sắn của Việt Nam hiện nay đứng khoảng thứ 10 trong số các quốc gia năng suất cao. Tuy nhiên, năng suất bình quân 17 tấn/ha chỉ tương đương 50% so với năng suất sắn tại Ấn Độ, thấp hơn năng suất sắn tại Indonesia 15% và thấp hơn Thái Lan là 9%. Như vậy, nếu như diện tích sắn của Việt Nam khó có khả năng gia tăng trong những năm tới do sự cạnh tranh của các loại cây khác cũng như do quy hoạch sử dụng đất thì chúng ta vẫn còn triển vọng tăng trưởng sản lượng nhờ gia tăng năng suất nếu được đầu tư đúng hướng về công tác chọn tạo giống và kỹ thuật canh tác sắn bền vững.

Diện tích, năng suất và sản lượng sắn Việt Nam qua các năm và phân theo các vùng sinh thái được thể hiện qua Bảng 2 và Bảng 3. Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung là vùng sản xuất sắn nhiều nhất cả nước với 175 nghìn ha năm 2012 và sản lượng khoảng 3 triệu tấn. Tây Nguyên là vùng thứ 2, tập trung chủ yếu ở bốn tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông. Năm 2012, diện tích sắn của Tây Nguyên đạt 149,5 ha, năng suất bình quân chỉ 17 tấn/ha, tổng sản lượng 2,5 triệu tấn; vùng Đông Nam Bộ đứng thứ 3 với 96,5 nghìn ha và sản lượng 2,4 triệu tấn) (Tổng cục thống kê, 2012).

Bảng 2. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn Việt Nam giai đoạn 2000 - 2012

Năm

Diện tích

(nghìn ha)

Năng suất 
(tấn/ha)

Sản lượng

(triệu tấn)

2000

234,90

8,66

2,03

2001

250,00

8,30

2,07

2002

329,90

12,6

4,15

2003

371,70

14,06

5,23

2004

370,00

14,49

5,36

2005

425,50

15,78

6,72

2006

474,80

16,25

7,77

2007

496,80

16,07

7,98

2008

557,40

16,85

9,30

2009

508,80

16,81

8,56

2010

496,20

17,17

8,52

2011

558,40

17,73

9,89

2012

550,60

17,70

9,74

Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê.

Hình 2: Diện tích, sản lượng sắn Việt Nam :



Bảng 3. Diện tích, năng suất, sản lượng sắn Việt Nam năm 2012 phân theo vùng kinh tế

TT

Vùng sinh thái

Diện tích
(1000 ha)

Năng suất
(tấn/ha)

Sản lượng
(1000 tấn)

1

Đồng bằng sông Hồng

6,7

15,7

105,1

2

Trung du và miền núi phía Bắc

118,0

12,0

1.494,5

3

Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung

175,0

16,6

3.027,5

4

Tây Nguyên

149,5

17,0

2.542,0

5

Đông Nam Bộ

96,5

25,8

2.485,1

6

Đồng bằng sông Cửu Long

6,5

15,3

99,3


Cả nước

550,6

16,8

9.745,5

Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê

Về thời tiết, Ðông Nam Bộ và Tây Nguyên có sự phân biệt mùa mưa và mùa khô rất rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 05 và kết thúc vào cuối tháng 10 hàng năm. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến hết tháng 04 năm sau. Do đặc điểm thời tiết của Vùng Đông Nam Bộ và Tây nguyên gần giống nhau nên lịch thời vụ trồng sắn của cả hai vùng sinh thái nói trên cũng được bố trí tương tự: 
Thời vụ chính (khoảng 70% diện tích), sắn được trồng từ giữa tháng tư đến cuối tháng năm, thu hoạch từ đầu tháng một đến cuối tháng ba năm sau. Thời vụ phụ (khoảng 30% diện tích), sắn được trồng từ giữa tháng 8 đến giữa tháng 9, thu hoạch từ giữa tháng 9 đến giữa tháng 10 năm sau. Sắn trồng ở thời vụ cuối mùa mưa có hàm lương tinh bột thấp hơn so với thời vụ trồng đầu mùa mưa.

Cơ cấu sử dụng sắn Việt nam hàng năm được chia thành 03 nhóm chính gồm: 37% cho sản xuất tinh bột; 33% cho xuất khẩu và 30% cho sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Hình 3: Cơ cấu sử dụng sắn Việt nam

 

LOGO NHÀ ĐẦU TƯ




 

LOGO ĐỐI TÁC





 

nuskin my viet nuskin viet nam nuskin